SINH HOẠT CHUYÊN MÔN TỔ 1, 2, 3

Lượt xem:

Đọc bài viết

SINH HOẠT CHUYÊN MÔN TỔ 1, 2, 3

TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯƠNG THẾ VINH

CHỦ ĐỀ:  

BỒI DƯỠNG NÂNG CAO NĂNG LỰC DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT THEO CTGDPT 2018 CHO GIÁO VIÊN

I. THÀNH PHẦN (ghi rõ từng thành viên tham gia)

– Vũ Thị Minh Phượng (Phó Hiệu trưởng)

– Trần Văn Hiển (Tổ trưởng) – Chủ trì

–  GV khối 2 + 3 có mặt đủ.

II. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM

Vào hồi 13h30 phút, ngày 17/12/2025, tại phòng Tin học (Khu B) diễn ra buổi sinh hoạt chuyên môn khối 2 + 3 với chủ đề: Bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học môn Tiếng Việt theo CTGDPT 2018 cho giáo viên.

1. Đồng chí Vũ Thị Minh Phượng (Phó Hiệu trưởng) thông báo nội dung và quán triệt tinh thần của buổi tập huấn.

2. Đồng chí Trần Văn Hiển (Tổ trưởng) tổ chức tập huấn cho giáo viên khối      2 + 3.

III. NỘI DUNG TẬP HUẤN

PHẦN I: MỤC TIÊU DẠY TIẾNG VIỆT

– Giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu với các biểu hiện cụ thể: yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương; có ý thức đối với cội nguồn; yêu thích cái đẹp, cái thiện và có cảm xúc lành mạnh; có hứng thú học tập, ham thích lao động; thật thà, ngay thẳng trong học tập và đời sống; có ý thức thực hiện trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và môi trường xung quanh…

– Phát triển năng lực văn học với yêu cầu phân biệt được thơ và truyện, biết cách đọc thơ và truyện; nhận biết được vẻ đẹp của ngôn từ nghệ thuật; có trí tưởng tượng, hiểu và biết xúc động trước cái đẹp, cái thiện của con người và thế giới xung quanh được thể hiện trong các văn bản văn học.

PHẦN II: YÊU CẦU CẦN ĐẠT

A. HOẠT ĐỘNG 1: THẢO LUẬN

Câu 1. Tìm hiểu yêu cầu cần đạt về kĩ năng viết theo CTGDPT 2018 môn Tiếng Việt cấp Tiểu học?

– Kĩ thuật viết: gồm các yêu cầu về tư thế viết, kĩ năng viết chữ và viết chính tả, kĩ năng trình bày bài viết,…

– Viết câu, đoạn, văn bản: gồm các yêu cầu về quy trình tạo lập văn bản và yêu cầu thực hành viết theo đặc điểm của các kiểu văn bản.

Câu 2. Tìm hiểu nội dung đoạn văn, kiểu văn bản và thể loại theo CTGDPT 2018 môn Tiếng Việt cấp Tiểu học đối với từng khối lớp?

* Lớp 2:

Nội dung: Đoạn văn

– Đoạn văn kể lại một sự việc.

– Đoạn văn miêu tả ngắn, đơn giản theo gợi ý.

– Đoạn văn nói về tình cảm của mình với những người thân yêu.

– Đoạn văn giới thiệu loài vật, đồ vật văn bản hướng dẫn thực hiện một hoạt động, bưu thiếp, danh sách, mục lục sách, thời khoá biểu, thời gian biểu.

* Lớp 3:

Nội dung: Kiểu văn bản và thể loại

– Đoạn văn kể lại câu chuyện đã đọc hoặc một việc đã làm.

– Đoạn văn miêu tả đồ vật.

– Đoạn văn chia sẻ cảm xúc, tình cảm.

– Đoạn văn nêu lí do vì sao mình thích một nhân vật trong câu chuyện.

– Đoạn văn giới thiệu về đồ vật, văn bản thuật lại một hiện tượng gồm 2 –3 sự việc, thông báo hoặc bản tin ngắn, tờ khai in sẵn.

Câu 3. Tìm hiểu yêu cầu cần đạt về viết đoạn văn, văn bản (bài văn) theo CTGDPT 2018 môn Tiếng Việt cấp Tiểu học đối với từng khối lớp?

* Lớp 2:

Yêu cầu cần đạt: VIẾT ĐOẠN VĂN NGẮN

Quy trình viết

– Xác định được nội dung bằng cách trả lời câu hỏi: “Viết về cái gì?”; viết nháp; dựavào hỗ trợ của giáo viên, chỉnh sửa được lỗi dấu kết thúc câu, cách viết hoa, cách dùng từ ngữ.

Thực hành viết

– Viết được 4 – 5 câu thuật lại một sự việc đã chứng kiến hoặc tham gia dựa vào gợi ý.

– Viết được 4 – 5 câu tả một đồ vật gần gũi, quen thuộc dựa vào gợi ý.

– Viết được 4 – 5 câu nói về tình cảm của mình đối với người thân hoặc sự việc dựa vào gợi ý.

– Viết được 4 – 5 câu giới thiệu về một đồ vật quen thuộc dựa vào gợi ý.

– Biết đặt tên cho một bức tranh.

– Biết viết thời gian biểu, bưu thiếp, tin nhắn, lời cảm ơn, lời xin lỗi.

* Lớp 3:

Yêu cầu cần đạt

– Quy trình viết Biết viết theo các bước: xác định nội dung viết (viết về cái gì); hình thành một vài ý lớn; viết thành đoạn văn; chỉnh sửa lỗi (dùng từ, đặt câu, dấu câu, viết hoa) dựa vào gợi ý.

Thực hành viết

– Viết được đoạn văn thuật lại một sự việc đã chứng kiến, tham gia.

– Viết được đoạn văn ngắn miêu tả đồ vật.

– Viết được đoạn văn ngắn nêu tình cảm, cảm xúc về con người, cảnh vật dựa vào gợi ý.

– Viết được đoạn văn ngắn nêu lí do vì sao mình thích hoặc không thích một nhân vật trong câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe.

– Viết được đoạn văn ngắn giới thiệu về bản thân, nêu được những thông tin quan trọng như: họ và tên, ngày sinh, nơi sinh, sở thích, ước mơ của bản thân.

– Viết được thông báo hay bản tin ngắn theo mẫu; điền được thông tin vào một số tờ khai in sẵn; viết được thư cho người thân hay bạn bè (thư viết tay hoặc thư điện tử).

B. HOẠT ĐỘNG 2: THẢO LUẬN, CHIA SẺ

Câu 1. Thực trạng về dạy viết đoạn văn, bài văn đối với học sinh Tiểu học hiện nay. Những thuận lợi, khó khăn, tồn tại hạn chế, nguyên nhân chính…

I. THỰC TRẠNG HỌC SINH

1. Kĩ năng quan sát, cảm nhận chưa được hình thành tốt, chưa biết lập dàn ý

– Không biết quan sát có mục đích.

– Không ghi nhớ được những điểm đặc trưng của sự vật, hiện tượng.

2. Bài viết sơ sài, chưa hấp dẫn

– Vốn từ, vốn sống còn hạn chế, không thể hiện cảm xúc. Học sinh ít tham gia hoạt động ngoài trời, ít được trải nghiệm thực tế, ít tiếp xúc với thiên nhiên, hoạt động đời sống, dẫn đến vốn sống hạn chế.

– Các em thường dùng từ chưa chính xác, câu văn đơn điệu

– Khi tả người, tả cảnh, tả đồ vật… học sinh khó tìm ý, không biết chọn đặc điểm nổi bật.

3. Lỗi chính tả – dùng từ – đặt câu còn nhiều

– Sai chính tả (nhất là âm đầu, âm cuối, dấu thanh).

–  Dùng từ sai nghĩa hoặc viết câu không hoàn chỉnh.

– Không biết sử dụng dấu chấm, dấu phẩy.

4. Học sinh viết văn thiếu mạch lạc

– Nhiều bài viết bị trùng lặp ý, diễn đạt rời rạc, ý lộn xộn …

– Câu văn dài dòng, hoặc quá ngắn nhưng thiếu nghĩa.

– Chuyển ý đột ngột, thiếu sự liên kết.

Nguyên nhân là do tác động của công nghệ khiến học sinh ít đọc – ít viết, ít giao tiếp. Các em quen nói chuyện ngắn gọn theo kiểu mạng xã hội, dẫn đến viết cũng ngắn và khô. Văn hóa đọc thu hẹp, nguồn từ ngữ và khả năng diễn đạt nghèo nàn theo.

5. Học sinh phụ thuộc nhiều vào văn mẫu

– Nhiều học sinh thường học thuộc hoặc sao chép văn mẫu từ sách tham khảo, Internet thay vì tự quan sát, tự cảm nhận và tự viết.

– Chưa tự tin do sợ phị phê bình, bị chê và mắc lỗi.

– Không thích học viết, ngại viết vì phải viết nhiều và khó

– Ngại nghĩ, ỉ lại vào giáo viên, văn mẫu

II. THỰC TRẠNG GIÁO VIÊN

1. Đã bám sát chương trình nhưng phụ thuộc nhiều vào SGK

2. Giáo viên còn gặp khó khăn trong việc đổi mới phương pháp

– Một phần giáo viên còn thiên về “giảng giải – cho mẫu – yêu cầu viết theo”, chưa tạo nhiều cơ hội để học sinh tự quan sát, tự trải nghiệm.

3.  Áp lực thời gian, số lượng tiết học hạn chế khiến việc rèn kỹ năng viết chưa thực sự sâu.

4. Một số giáo viên còn lúng túng chưa quan tâm đến việc tổ chức hoạt động mở rộng vốn sống cho học sinh (hoạt động trải nghiệm, luyện quan sát, miêu tả cảm xúc…).

5. Một số thầy cô đặt ra yêu cầu cao hơn khả năng của học sinh: bài phải hay, có cảm xúc, có nhiều hình ảnh nghệ thuật, câu văn trau chuốt.

III. THỰC TRẠNG PHỤ HUYNH

– CMHS chưa nhận thức đúng về việc rèn kĩ năng viết

– Chưa biết cách để tích lũy vốn sống cho con

– Kì vọng vào kết quả của con quá nhiều. Nhiều phụ huynh chỉ quan tâm con viết “hay”, “đẹp”, “đúng mẫu”, trong khi cốt lõi của kĩ năng viết là “Viết đúng trải nghiệm của chính mình”.

– Một số phụ huynh can thiệp quá sâu, sửa bài hoặc viết hộ, khiến giáo viên khó đánh giá đúng năng lực thực của học sinh.

Kết luận:

Thực trạng dạy học Tập làm văn hiện nay cho thấy học sinh ngày càng thiếu chủ động, thiếu sáng tạo, vốn từ hạn chế và phụ thuộc nhiều vào văn mẫu.

Câu 2. Thầy cô đã làm gì trước thực trạng trên, biện pháp đã thực hiện nhằm nâng cao chất lượng dạy và học kĩ năng viết đoạn văn, bài văn đối với học sinh tiểu học.

I. GIÚP HỌC SINH HIỂU

– Đề bài yêu cầu HS làm gì?

– Đề bài yêu cầu HS làm như thế nào?

II. GIÚP HỌC SINH HỌC TRẢI NGHIỆM

1. Dựa vào yêu cầu của nhiệm vụ để lựa chọn đối tượng.

2. Xác định đối tượng có ở xung quanh hay qua các video, hình ảnh.

3. HD học sinh chuẩn bị hệ thống câu hỏi, đồ dùng học tập.

4. HD học sinh cách quan sát.

5. HD học sinh xâu chuỗi các vấn đề quan sát được và sử dụng ngôn từ đề diễn tả những điều mà mình đã quan sát được.

6. Chốt được mẫu chung về một loại bài miêu tả.

III. QUY TRÌNH CHUNG DẠY  VIẾT BÀI VĂN

– Bước 1: Trải nghiệm

– Bước 2: Thu thập và xử lý thông tin (quan sát tìm ý); lập dàn bài.

– Bước 3:  Trình bày miệng, sửa, viết bài

IV. GIÁO VIÊN CẦN GIÚP HỌC SINH

1. Tích lũy kiến thức:

– Kiến thức từ các tác phẩm văn học:

+ Kiến thức về các hiện tượng tự nhiên được miêu tả ở dạng sinh động, cụ thể, có thể cảm nhận được trực tiếp:

Ví dụ:

Tả mưa: Lộp độp, lộp độp. Mưa rồi. Mưa ào ạt như trút.

Tả ánh nắng: Nắng lấp lánh như đùa giỡn, nhảy nhót với những ngọn sóng trên sông…

+ Kiến thức về mối quan hệ giữa con người với con người

Tả hoạt động của chợ phiên: Vai kĩu kịt, tay vung vẩy, chân bước thoăn thoắt. Tiếng lợn kêu eng éc, tiếng gà chíp chíp, tiếng vịt cạc cạc, tiếng người nói léo xéo.

+ Kiến thức về ngôn ngữ:

– Kiến thức từ các môn học khác (âm nhạc, mĩ thuật, Khoa học…);

– Kiến thức từ vốn sống thực tế (tiếng gió, mưa,….).

– Kiến thức từ việc trao đổi với những người xung quanh; phim ảnh…

2. Quan sát và ghi chép

– Quan sát: Từng loại bài có cách quan sát khác nhau.

+ Quan sát đối tượng vào những thời điểm khác nhau để thấy được sự thay đổi của đối tượng.

+ Chọn vị trí quan sát tốt, góc quan sát phù hợp: xa hay gần, trong hay ngoài… sẽ giúp ta nắm được cái thần của đối tượng, cảm nhận đối tượng một cách rõ ràng, cụ thể và tinh tế hơn.

+ Quan sát đối tượng bằng nhiều giác quan, không chỉ bằng thị giác mà phải biết huy động mọi giác quan: thính giác (nghe), khứu giác (ngửi), xúc giác (sờ, nắm), vị giác (nếm).

+ Quan sát phải gắn liền với liên tưởng, tưởng tượng

+ Quan sát mọi lúc mọi nơi để hình thành thói quen

– Quan sát phải có định hướng cụ thể

– Ghi chép: Sơ đồ tư duy, sơ đồ cây,…(Dàn bài chi tiết)

Ví dụ:

3. Rèn luyện cách dùng từ ngữ biểu cảm: từ tượng thanh, tượng hình,….. và các thủ pháp nghệ thuật: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ,…

Ví dụ:

Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương,… Trời ầm ầm dông gió, biển đục ngầu giận dữ

Hoặc:

Con đường trước cửa đang khô dần. Trên đường, xe cộ qua lại nườm nượp…

Góc phố, mấy cô bé đang chơi nhảy dây. Nhữn bím tóc tun ngủn vung vẩy theo từng nhịp chân nhảy…

Ban đầu có thể sử dụng dạng bài có những đoạn chưa hoàn chỉnh để HS tìm từ ngữ thích hợp điền vào chỗ trống.

* LƯU Ý:

– Sắp xếp các tiết tập làm văn hợp lí để tránh việc HS học xong tiết viết kết bài thì quên cách viết mở bài

– HD học sinh quan sát, tìm ý thật chi tiết (trải nghiệm), lập dàn bài (đoạn, bài).

– Không đọc cho HS chép và học thuộc văn

– Tổ chức các tiết đầu tiên của mỗi thể loại cần làm chi tiết cho một đối tượng cụ thể đến khi HS thành thạo

C. PHẦN III: CHIA SẺ KINH NGHIỆM

I. MỞ RỘNG VỐN TỪ

– Dạy học các phân môn TV, đặc biệt là bài đọc, khai thác vốn từ trong  bài ;

– Tạo môi trường giàu ngôn ngữ trong lớp học. Xây dựng “góc từ mới”: HS được tự dán những từ mới mà các em tìm được qua bài đọc, qua tivi, kể chuyện…; Treo bảng từ vựng theo chủ đề, thay đổi hàng tuần: thiên nhiên, trường học, gia đình, nghề nghiệp…

– Dạy đúng bản chất của các bài “MRVT”: cung cấp từ- hiểu nghĩa từ- vận dụng từ

– MRVT theo chủ điềm kết hợp sử dụng kĩ thuật dạy học, trò chơi: Đố vui từ ngữ. Tìm từ cùng chủ đề, tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, từ đa nghĩa…;  Nối nhanh – nối đúng: GV gọi chủ đề, yêu cầu Hs thi nhau tìm từ thuộc chủ đề đó

– Lập “từ điển” của cá nhân, sử dụng từ điển

– Đọc văn mẫu (gắn liền với nội dung bài viết)

– Khuyến khích, phát triển văn hóa đọc, lựa chọn sách phù hợp với tâm lý, lứa tuổi và nhu cầu để tạo hứng thú và thói quen đọc;  Khuyến khích mỗi ngày 15p đọc sách tự chọn; Sau khi đọc học sinh chia sẻ những từ mới, hỏi các em cảm nhận về nhân vật, chi tiết nào làm em thích thú nhất, tại sao? Điều này giúp các em ghi nhớ từ mới, làm quen với việc phân tích và bộc lộ cảm xúc.

Ví dụ:

1. Miêu tả ngoại hình

– Dáng người/Vóc dáng: Cao lớn, thấp bé, gầy gò, ốm yếu, dong dỏng, thanh mảnh, vạm vỡ, mập mạp, lực lưỡng, cân đối.

– Khuôn mặt: Tròn trịa, trái xoan, bầu bĩnh, vuông vức, xương xẩu, hốc hác, phúc hậu.

– Làn da: Trắng trẻo, trắng nõn nà, hồng hào, ngăm đen, bánh mật, sần sùi, nhăn nheo, mịn màng.

– Tóc: Dày dặn, mỏng, lưa thưa, suôn mượt, óng ả, khô rối, bạc phơ, xoăn tít.

– Mắt: Tròn vo, xếch, bồ câu, sáng, linh lợi, đen láy, ti hí, lờ đờ, mờ đục.

– Mũi: Cao, tẹt, dọc dừa, hếch, to, nhỏ, thẳng, thon.

– Miệng/Môi: Chúm chím, nhỏ nhắn, rộng, môi dày, môi mỏng, đỏ mọng,        nứt nẻ.

– Răng: Trắng nõn, đều đặn, hô, sún, lòi xỉ, răng khểnh.

– 2. Miêu tả tính cách & nội tâm

– Tích cực: Hiền lành, dịu dàng, chăm chỉ, thật thà, dũng cảm, thông minh, nhanh nhẹn, vui vẻ, lạc quan, tự tin, nhã nhặn.

– Tiêu cực: Gian xảo, lười biếng, ích kỷ, keo kiệt, đanh đá, khó tính, bướng bỉnh, tự cao, hẹp hòi.

3. Miêu tả hành động & cử chỉ

Cử chỉ: Thướt tha, nhẹ nhàng, nhanh nhẹn, lúng túng, rụt rè, mạnh mẽ,               dứt khoát.

Giọng nói: Thanh thoát, trong trẻo, ồm ồm, lí nhí, vang vọng, nghẹn ngào, lắp bắp, chát chúa.

4. Miêu tả trang phục & phong cách

Trang phục: Gọn gàng, sạch sẽ, lôi thôi, sặc sỡ, giản dị, hợp thời trang.

Phong cách: Lịch lãm, phong trần, giản dị, quý phái, năng động.

II. PHÁT TRIỂN CÂU VĂN

– Chiến thuật trả lời câu hỏi

Ai/thế nào/làm gì/ở đâu/khi nào?

VD: Sáng sớm, những tia nắng ấm áp nhảy nhót trên cánh đồng.

  • Mở rộng câu văn bằng cách tạo tả qua so sánh, đối chiếu…
  • Chữa lỗi câu
  • Viết câu có đầy đủ các giác quan và yếu tốIII. VIẾT THÀNH ĐOẠN VĂN

    – Hướng dẫn kĩ cấu trúc của một đoạn văn

    – Cách viết câu mở đoạn, đoạn văn diễn dịch/quy nạp

    – Xác định từ khóa trong mỗi câu để phát triển ý

    – Đưa ra các phản ví dụ để HS hiểu rõ hơn về tính liên kết trong đoạn văn…

    (Giáo viên khối 2 + 3 tham gia tập huấn)

    * Kết luận:

    Để giúp học sinh viết được một đoạn văn hay, sáng tạo … giáo viên cần có sự chuẩn bị đầy đủ từ khi soạn kế hoạch dạy học. Trong quá trình hướng dẫn học sinh viết đoạn văn giáo viên cần hướng dẫn tỉ mỉ, cần kiên trì, bền bỉ …

    Buổi Bồi dưỡng nâng cao năng lực dạy học môn Tiếng Việt theo CTGDPT 2018 cho giáo viên rất hiệu quả. Các thầy cô đã nghiên cứu, chia sẻ thực trạng và cách dạy học, giúp đỡ để học sinh viết được một đoạn văn tốt hơn và có sáng tạo… Hi vọng rằng qua buổi tập huấn này giáo viên trong khối 2, 3 sẽ có thêm kiến thức và phương pháp để dạy học môn Tiếng Việt nội dung viết tốt hơn.

    Buổi tập huấn kết thúc lúc 16 giờ 30 phút cùng ngày.

                                                                                           T/M tổ: Tổ Trưởng

                                                                          

                                                                           Trần Văn Hiển